MỘT SỐ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGÀNH CÔNG AN QUÊ Ở TIỀN GIANG

1. VÕ VĂN BẢY (1917 – 1959)

Võ Văn Bảy sinh năm 1917 tại xã Thạnh Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình nông dân có truyền thống yêu nước và đấu tranh chống áp bức, bóc lột.

Năm 1946, ông tham gia cách mạng ở địa phương, lần lượt giữ  các chức vụ Ủy viên, Phó rồi Trưởng Công an xã. Tháng 1 – 1947, ông tổ chức đánh diệt bọn tề xã có nhiều nợ máu đối với nhân dân. Năm 1948, ông khám phá một tổ chức gián điệp do cơ quan tình báo Pháp cài cắm ở địa phương, bắt 7 mật báo viên của địch.

Từ năm 1949 – 1954, mặc dù bị địch đánh phá ác liệt, nhưng ông vẫn kiên cường bám chặt địa bàn, làm tốt công tác địch tình; giáo dục, giác ngộ những người lầm đường lạc lối theo địch trở về với nhân dân và tổ chức đưa người của ta vào bộ máy chính quyền địch. Trong thời gian này, thông qua một cơ sở nội tuyến, ông đã vận động được một viên thiếu úy là trưởng đồn Chà Là cùng với một trung đội lính 20 người rời bỏ hàng ngũ địch, đi theo cách mạng.

Sau hiệp định Genève (tháng 7 – 1954), địch tăng cường bộ máy chính quyền và quân sự ở cơ sở; đồng thời, ra sức truy bắt cán bộ, đảng viên, khiến cho phong trào cách mạng ở địa phương gặp rất nhiều khó khăn.

Tuy vậy, với phương châm “ một tấc không đi, một li không rời”, ông quyết tâm bám đất, bám dân, cùng với Xã ủy lãnh đạo quần chúng đấu tranh chính trị, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, đòi các quyền dân sinh dân chủ, chống trò hề bầu cử của địch, chống địch khủng bố, đàn áp, giết hại những người yêu nước, chống việc địch gom dân vào các khu trù mật,…

Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, với chức trách là Trưởng Công an xã, ông đã tổ chức một số hoạt động diệt ác trừ gian ở địa phương; tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, giác ngộ, cảm hóa những người trong Ban Hương chức hội tề, tiến tới vô hiệu hóa bộ máy chính quyền địch; đồng thời, gọi răn đe, cảnh cáo những người cố tình chống nhân dân và cách mạng. Nhờ thế, phong trào cách mạng ở xã Thạnh Phú được giữ vững và ngày càng phát triển.

Do đó, địch cho quân truy lùng ông ráo riết. Đêm 4 – 4 – 1957, ông bị bọn chúng bắt. Trước hành động tra tấn dã man và sự dụ dỗ, mua chuộc của địch, dù bị đày từ nhà lao này đến nhà lao khác trong suốt 2 năm trời, nhưng ông vẫn một lòng trung thành với cách mạng và nhân dân.

Biết không thể khuất phục được ông, năm 1959, địch đã xử chém ông theo luật phát xít 10/59 của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ông đã anh dũng hy sinh vì nước lúc ông 42 tuổi.  Ngày 22-7-1998, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

 2. CAO ĐĂNG CHIẾM (1921 – 2010)

Cao Ðăng Chiếm, bí danh Sáu Hoàng, sinh năm 1921, tại xã Nhị Quý, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Lúc nhỏ, ông được gia đình cho đi học tiểu học và trung học ở Mỹ Tho. Sau đó, ông lên Sài Gòn học nghề về giao thông công chính và đi làm.

Tiếp nối truyền thống yêu nước của ông cha, ông sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1943, ông gia nhập tổ chức Công hội đỏ hoạt động bí mật. Tháng 8-1945, ông tham gia Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, được giao nhiệm vụ chiếm giữ và treo Quốc kỳ tại Dinh Thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn.

Tháng 9-1945, ông giữ chức vụ Phó Giám đốc Quốc gia tự vệ cuộc (sau đổi thành Sở Công an Nam Bộ) kiêm Trưởng ty Công an thành phố Sài Gòn – Gia Ðịnh. Năm 1946, ông được kết nạp vào Ðảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) do ông Nguyễn Văn Linh (sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) tổ chức kết nạp. Tháng 4-1947, ông được bầu làm Thành ủy viên Thành ủy Sài Gòn. Từ năm 1950 đến năm 1954, ông là Giám đốc Sở Công an Liên Phân khu miền Ðông Nam Bộ.

Sau hiệp định Genève (7-1954), ông được Trung ương chỉ định hoạt động ở miền Nam, công tác tại Ban Ðịch tình Xứ ủy Nam Bộ, tiếp cận bảo vệ Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn (sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam).

Tháng 1-1960, ông là Phó  Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy Nam Bộ. Tháng 10-1961, ông được giao nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa cách mạng nhằm chuẩn bị cho đấu tranh vũ trang ở tỉnh Tây Ninh và phát động nổi dậy ở khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Ðịnh.

Năm 1965, ông giữ chức vụ Trưởng Ban An ninh Ðặc khu Sài Gòn – Gia Ðịnh (gọi tắt là Ban An ninh T4), tham gia Ðặc khu ủy. Trong thời gian này, ông đã lãnh đạo Ban An ninh T4 triển khai nhiều mặt công tác và tổ chức xây dựng lực lượng, cơ sở trong lòng địch. Ban An ninh T4 đã tổ chức hệ thống an ninh của cách mạng ngay tại thành phố Sài Gòn – Gia Định và thành lập lực lượng an ninh vũ trang.

Năm 1966, ông được đề bạt làm Phó Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, được Trung ương Cục chỉ định làm Tư lệnh Mặt trận tiền phương kiêm Chỉ huy trưởng bảo vệ căn cứ Trung ương Cục.

Cuối năm 1974, ông được Trung ương Cục miền Nam chỉ định làm Chỉ huy phó Ban Chỉ huy tiền phương và là Thường vụ Ðảng ủy Ðặc khu Sài Gòn – Gia Ðịnh, chuẩn bị chiến dịch đánh vào giải phóng Sài Gòn – Gia Ðịnh. Với cương vị này, ông đã chỉ huy các lực lượng an ninh phối hợp với quân chủ lực trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tấn công và nổi dậy để giải phóng Sài Gòn – Gia Định ngày 30-4-1975, kết thúc thắng lợi công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày 30-4-1975, ông giữ chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Ðịnh, phụ trách an ninh, nội chính, trực tiếp phụ trách đoàn cán bộ chiếm lĩnh, tiếp quản các cơ quan của chính quyền Sài Gòn. Tháng 2-1976, ông là Phó Trưởng ban đại diện Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) tại miền Nam. Tháng 10-1976, ông được Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ định làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Tháng 12-1976, tại Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Ðảng.

Trong thời kỳ này, tình hình an ninh chính trị và xã hội ở miền Nam có những diễn biến phức tạp. Các phần tử thuộc chế độ cũ có âm mưu ngóc đầu dậy. Một số tổ chức phản động ra đời hòng thực hiện mưu đồ phá hoại chính quyền cách mạng và trở lại cầm quyền. Các thế lực thù địch bên ngoài cũng tiến hành các hoạt động tình báo, gián điệp, móc nối, hà hơi, tiếp sức cho số phản động trong nước.

Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng Công an Nhân dân đã cùng đồng bào và chiến sĩ đập tan những âm mưu và hoạt động của địch, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một lần nữa, ông lại được giao trọng trách ở cuộc chiến đấu mới này. Với những hiểu biết về địch tình và kinh nghiệm phong phú trong công tác an ninh, ông đã góp phần tích cực trong việc lãnh đạo, tổ chức lực lượng Công an Nhân dân lập nhiều chiến công xuất sắc, trong đó có Kế hoạch CM-12, đập tan âm mưu chống phá cách mạng của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.

Song song đó, ông cũng không quên công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân, nhất là ở các tỉnh phía Nam. Ông thường nhấn mạnh là phải thường xuyên coi trọng công tác xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh, làm tốt công tác cơ bản, thường xuyên nhưng cũng luôn luôn sẵn sàng hoàn thành tốt những nhiệm vụ đột xuất,  góp phần quan trọng trong công tác đảm bảo vững chắc nền an ninh chính trị của đất nước, bảo vệ trật tự và an toàn xã hội, bảo vệ công cuộc xây dựng đất nước và cuộc sống bình yên của Nhân dân

Tại Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3-1982) và Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986), ông được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1986, ông đảm nhiệm chức vụ Thứ trưởng thường trực Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và là Ủy viên thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương. Ông là một trong những cán bộ lãnh đạo đã tích cực xây dựng lực lượng Công an Nhân dân theo hướng cách mạng, tinh nhuệ, từng bước chính quy và hiện đại. Năm 1989, ông được Nhà nước phong hàm Thượng tướng Công an Nhân dân. Năm 1991, ông được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu trí. Năm 2007, ông bị bệnh nặng qua đời. Năm 2010, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Do công lao, thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, ông đã được Ðảng, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Ðộc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; hai Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huy chương Vì an ninh Tổ quốc, Huy hiệu 60 năm tuổi đảng và nhiều phần thưởng cao quý khác của Ðảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế trao tặng.

Nói về ông, Đại tướng Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an khẳng định: “Trong suốt 65 năm tham gia hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, quyết liệt và 61 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, trong những năm tháng đầy gian khổ hy sinh của cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí Cao Đăng Chiếm luôn là người có mặt ở những nơi đầu sóng ngọn gió, nơi ác liệt, khó khăn, phức tạp nhất của chiến trường miền Nam. Dù ở cương vị, hoàn cảnh nào đồng chí cũng đều luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Đồng chí là một đảng viên gương mẫu, ưu tú của Đảng, một cán bộ lãnh đạo có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, giàu nghị lực, kiên cường, dũng cảm, luôn nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn trở ngại, cống hiến hết mình cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân…”

 3. TRƯƠNG THÀNH CHƠI (1952 – 1973)

Trương Thành Chơi, tên hoạt động cách mạng là Trương Thành Công, sinh năm 1952 tại xã Quơn Long, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình nông dân có truyền thống cách mạng.

Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1969, ông tham gia lực lượng An ninh vũ trang huyện Chợ Gạo. Tháng 8-1970, ông được cấp trên điều về Đội An ninh vũ trang chuyên trách bảo vệ Tỉnh ủy thuộc Ban An ninh tỉnh Mỹ Tho. Ông đã cùng đồng đội dũng cảm, mưu trí đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét ác liệt của địch vào căn cứ của Tỉnh ủy Mỹ Tho đặt tại Long Tiên (huyện Cai Lậy), bảo vệ tuyệt đối an toàn cán bộ và cơ quan Tỉnh ủy.

Tháng 5-1971, địch tung 8 đại đội địa phương quân thuộc Tiều khu Định Tường và 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 7, có phi pháo, máy bay yểm trợ, tấn công vào căn cứ Tỉnh ủy. Trước tình hình đó, ông cùng với đơn vị liên tục đánh chặn các mũi tiến công của quân địch. Sau 10 ngày đêm không thực hiện được ý định, địch buộc phải rút quân.

Tháng 7-1971, địch sử dụng 1 tiểu đoàn đánh vào căn cứ Tỉnh ủy. Đơn vị nhanh chóng đưa cán bộ Tỉnh ủy đi sơ tán. Theo sự phân công của cấp trên, ông cùng 2 đồng chí nữa ở lại bám trụ đánh địch. Suốt 23 ngày đêm, tổ chiến đấu do ông chỉ huy diệt 83 tên địch, riêng ông diệt và làm bị thương 45 tên, bẻ gãy cuộc tấn công của địch.

Tháng 12-1971, địch đưa 1 tiểu đoàn thuộc sư đoàn 7, có chỉ điểm dẫn đường, bất ngờ tấn công vào căn cứ Tỉnh ủy. Ông và cùng với đơn vị anh dũng chiến đấu suốt 1 tháng, đánh bại các cuộc tấn công của địch, diệt 14 tên.

Tháng 4-1973, địch càn vào căn cứ, ông và đơn vị chiến đấu, diệt gần 100 tên, bảo vệ an toàn cho cán bộ và giữ vững địa bàn.

Ngày 9-5-1973, trong một trận đánh quyết liệt với địch, ông bị thương nặng và không may sa vào tay giặc. Địch tra tấn ông rất dã man hòng khai thác tin tức. Nhưng, ông vẫn giữ vững khí tiết của một chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất, quyết giữ bí mật của tổ chức. Bất lực, địch đã giết hại ông.

Trong quá trình công tác và chiến đấu, ông được khen thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì, 1 Huy chương Giải phóng hạng Nhì, 1 giấy chứng nhận Dũng sĩ Quyết thắng hạng Nhì và nhiều bằng khen, giấy khen. Ngày 24-1-1976, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tên ông được đặt tên đường ở thành phố Mỹ Tho và thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; tên công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên in Trương Thành Công.

4. VÕ VĂN DÁNH (1931 – 1995)

Võ Văn Dánh, bí danh Võ Văn Gò, Tư Hiếu, sinh năm 1931 tại làng Tăng Hòa, tổng Hòa Lạc Hạ, tỉnh Gò Công, nay là xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, trong một gia đình nông dân.

Tháng 8-1945, ông tham gia cách mạng, hoạt động đoàn thể thiếu niên tại địa phương. Năm 1946, khi giặc Pháp quay trở lại xâm lược Gò Công, ông gia nhập lực lượng Vệ Quốc Đoàn, chiến đấu bảo vệ quê hương. Năm 1948, ông là chiến sĩ trinh sát thuộc tiểu đoàn 305. Năm 1950, ông lần lượt đảm nhiệm chức vụ tiểu đội phó rồi tiểu đội trưởng bộ đội địa phương Gò Công. Năm 1952, trong một trận đánh, ông bị địch bắt; bọn chúng đã đem đồng đội và cả em ruột của ông ra bắn trước mặt ông để lung lạc tình thần, song ông vẫn vững vàng, mưu trí trốn thoát. Sau đó, ông liên lạc với tổ chức, được phân công làm trinh sát Tỉnh đội Mỹ Tho (còn gọi tỉnh Mỹ Tân Gò). Năm 1953, ông được đề bạt làm trung đội phó thuộc Tỉnh đội Mỹ Tho.

Sau hiệp định Genève (7-1954), ông được Đảng phân công ở lại miền Nam, phụ trách công tác bảo vệ và xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Tân An (nay là tỉnh Long An). Năm 1955, ông được cấp trên tin cẩn giao nhiệm vụ bảo vệ cơ quan và các vị lãnh đạo của Tỉnh uỷ Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp). Trong thế bị địch kìm kẹp, bao vây, lùng sục, ông đã góp phần cùng đồng chí, đồng đội bảo vệ Tỉnh uỷ được an toàn. Năm 1961, ông công tác tại Ban Tuyên huấn tỉnh, phụ trách nhà in Cửu Long với nhiệm vụ in ấn công văn, giấy tờ, bản tin, tài liệu tuyên truyền, phục vụ cho cuộc chiến đấu của quân dân tỉnh Kiến Phong.

Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ”, năm 1965, ông được điều về lãnh đạo đơn vị C.279 bảo vệ cơ quan Tỉnh uỷ. Cơ quan Tỉnh uỷ là mục tiêu đánh phá số một của địch. Ông vừa giáo dục ý thức bảo mật, tinh thần chiến đấu và chịu đựng gian khổ cho toàn đơn vị, vừa vận động nhân dân đùm bọc, vừa ra sức cải tạo địa hình, địa vật, trồng cây, phát triển gài chông mìn,… để cơ quan Tỉnh uỷ chịu đựng được sự đánh phá ác liệt của địch. Với tư tưởng tấn công, ông không thụ động chờ địch đến mới đánh, mà chủ động thường xuyên cử đồng đội phối hợp du kích xã bao vây đồn bót xung quanh khu căn cứ Tỉnh ủy.

Năm 1966, trong một trận chống càn, tuy bị thương nặng và hư một mắt, nhưng ông vẫn không rời đơn vị. Căn cứ của Tỉnh uỷ Kiến Phong ở Xẻo Quýt vẫn tồn tại, an toàn trong vòng vây đồn bót, càn quét, đánh phá điên cuồng của địch. Do có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và xây dựng đơn vị, cũng trong năm này, ông được đề bạt sơ cấp Đảng, đại đội phó rồi đại đội trưởng đơn vị C.279.

Từ năm 1969 – 1974, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ, như đại đội bậc trưởng, phụ trách An ninh tỉnh Kiến Phong, Chi ủy viên Ban An ninh Tỉnh ủy, Ủy viên Ban Cán sự, Trưởng tiểu ban An ninh vũ trang tỉnh, Tiểu đoàn bậc phó An ninh vũ trang tỉnh. Trong thời gian này, ông đã chỉ huy đơn vị đánh thắng địch hàng chục trận, bảo vệ an toàn căn cứ và các vị lãnh đạo Tỉnh ủy, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, tiêu biểu là các chiến thắng sau đây:

– Ngày 06-01-1969, 1 đại đội quân Mỹ đổ xuống đánh vào cơ quan Tỉnh uỷ đóng ở Bình Hàng Tây. Với tư tưởng “nắm thắt lưng địch mà đánh”, ông chờ lính Mỹ vào cách 5m mới ra lệnh nổ súng. Suốt ngày chịu đựng bom pháo ác liệt của quân Mỹ, ông đã chỉ huy đơn vị bám chặt công sự, đánh bật tất cả các đợt tấn công của địch. Đến tối, ông lừa địch vào hướng khác, đưa toàn bộ cơ quan Tỉnh uỷ rút lui an toàn. Trong trận này, đơn vị do ông chỉ huy đã diệt và làm bị thương 30 lính Mỹ, thu 5 khẩu súng, bắn rơi 2 chiếc trực thăng.

– Trong tháng 3-1969, ông chỉ huy đơn vị đánh nhiều trận, tổng cộng diệt và làm bị thương 150 lính Mỹ, thu 10 khẩu súng, 17 máy truyền tin PRC25.

– Ngày 04-10-1974, ông tổ chức phục kích, lừa địch vào vòng vây rồi mới nổ súng, bẻ gãy ý đồ của địch là đưa 4 đại đội hành quân hòng tái chiếm đồn Gốc Khế (Thanh Mỹ), diệt và bắt hàng 1 đại đội địch, thu 2 khẩu cối 60 li, 8 khẩu 12 li và nhiều quân trang, quân dụng của địch.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), ông được đề bạt trung cấp Đảng, Tiểu đoàn phó An ninh vũ trang tỉnh Kiến Phong vào tháng 7-1975. Năm 1976, ông là Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng ty Công an tỉnh Đồng Tháp, góp phần to lớn vào công cuộc đảm bảo an ninh chính trị và trật tự xã hội tỉnh Đồng Tháp trong những năm đầu giải phóng. Năm 1981, ông được bầu làm Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đồng Tháp. Năm 1992, ông được Đảng và Nhà nước giải quyết chế độ hưu trí. Năm 1995, ông bị bệnh qua đời. Phần mộ của ông tọa lạc tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 6-11-1978, ông được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ông là tấm gương sáng về lòng trung thành, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, lạc quan và tận tụy với mọi nhiệm vụ do cách mạng giao phó. Tên ông được đặt tên trường trung học cơ sở ở thị trấn Tân Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

5. VÕ VĂN LÀNH (1953 – 1999)

Võ Văn Lành sinh năm 1953 tại xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Năm 1968, ông gia nhập lực lượng An ninh vũ trang tỉnh Mỹ Tho. Do có thành tích trong chiến đấu, năm 1972, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã tham gia hàng trăm trận chiến đấu bảo vệ cán bộ, bảo vệ an toàn căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Tho đóng ở Long Tiên, huyện Cai Lậy. Riêng ông đã diệt 70 tên địch, làm bị thương 90 tên, đánh sập 2 cầu trên Lộ 4 (nay là Quốc lộ 1) cắt đứt tuyến giao thông chiến lược của địch. Năm 1972, trong một trận đánh chống địch càn quét, ông bị thương nặng (về sau được công nhận thương binh 2/4, mất sức 61%). Mặc dù bị thương tích nặng nề, nhưng trong lúc điều trị ở bệnh viện, ông đã tự học hết chương trình trung học phổ thông hệ bổ túc văn hóa.

Sau khi hòa bình lập lại (1975), ông tiếp tục học tập, tốt nghiệp Cử nhân khoa học ngành Luật học. Bên cạnh đó, ông đã lập nhiều thành tích trong phong trào bảo vệ an ninh, trật tự tại địa phương; tiêu biểu tháng 12-1980, ông đã trực tiếp bắt 1 tên cướp khét tiếng, thu 1 súng AK và 3 quả lựu đạn; tháng 9-1991, ông đã khám phá và bắt được các đối tượng cướp tiệm vàng ở thành hố Mỹ Tho, thu 1 súng K54 và 7 viên đạn.

Trong công tác xây dựng lực lượng ngành Công an, với cương vị Trưởng phòng Hậu cần, Công an Tiền Giang, ông đã thực hiện tốt công tác quản lý thu, chi đúng chế độ, nguyên tắc do Nhà nước quy định; đồng thời, ông còn tích tham gia xây dựng các nông trường do Công an tỉnh quản lý, như Nông trường 30 tháng 4, Nông trưởng nuôi tôm Minh Hải, Nông trường Sông bé,…

Tháng 11-1993, ông được bổ nhiệm làm Giám thị Trại giam Đồng Tháp, Cục  C26, Bộ Công an. Với nhiệm vụ này, ông đã chỉ đạo đơn vị làm tốt các mặt công tác quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân, xây dựng trại giam từ một vùng đất hoang hóa, quanh năm nhiễm phèn trở thành một cơ ngơi bề thế, nơi ăn ở của cán bộ chiến sĩ và nơi giam giữ phạm nhân ngày càng tốt hơn, Trại giam Đồng Tháp là một trong những đơn vị tiêu biểu của Cục V26.

Năm 1999, do lâm trọng bệnh, ông mất.

Trong quá công tác, ông được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 1 Huân chương Quyết thắng hạng Nhì, 1 Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, 1 Huân chương Lao động hạng Ba, nhiều bằng khen của Bộ Công an và tỉnh Tiền Giang. Ngày 22-7-1998, ông được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 6. VÕ THỊ LỚ  (1950 – 1969)

Võ Thị Lớ, sinh năm 1950 tại ấp Giồng Lãnh, xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình nông dân có truyền thống cách mạng.

 Năm 1968, bà giác ngộ cách mạng; và được cấp trên phân công làm giao liên cho Ban An ninh thị xã Gò Công. Dưới vỏ bọc hợp pháp là một thợ may ở thị xã Gò Công, bà luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được cấp trên giao phó, mặc dù điều kiện công tác rất nguy hiểm, bởi vì, lúc bấy giờ, Gò Công là địa bàn bình định trọng điểm của địch, cơ sở cách mạng bị đánh phá vô cùng ác liệt.

Đầu năm 1969, mạng lưới giao liên của Ban An ninh thị xã bị địch phát hiện. Vì thế, bà được chuyển sang làm giao liên bán công khai. Đây là công tác khó khăn và nguy hiểm hơn gấp nhiều lần so với việc làm giao liên hợp pháp khi bà mới vừa tham gia cách mạng. Tuy các ngả đường ở Gò Công khi ấy giăng đầy cảnh sát, mật thám, chỉ điểm; nhưng bà đã chuyển tuyệt đối an toàn tài liệu, vũ khí  từ căn cứ của Tỉnh ủy Gò Công đóng ở Đồng Ninh B (còn gọi là Đồng Sơn Xép, nay thuộc huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang) vào thị xã Gò Công và ngược lại.

Sáng sớm ngày 5-8-1969, địch huy động lực lượng sư đoàn 7 và các tiểu đoàn địa phương quân thuộc Tiểu khu Gò Công ồ ạt tấn công vào căn cứ Tỉnh ủy Gò Công ở xã Đồng Sơn. Mới tờ mờ sáng, máy bay và pháo binh của địch đã thi nhau ném bom, bắn phá ác liệt vào ấp Đồng Ninh B. Khi đó, chỉ huy việc bảo vệ căn cứ là ông Trần Thanh Tâm, Trưởng ban An ninh thị xã, ra lệnh cho các chiến sĩ trong Đội An ninh võ trang hướng dẫn các vị lãnh đạo xuống hầm bí mật tránh địch. Bà ẩn nấp trong căn hầm thứ hai cùng với hai người nữa.

Ngay sau khi bom pháo vừa dứt, địch chia nhiều cánh quân hùng hổ tràn vào; trong đó có một cánh quân tiến ngay vào nơi có các hầm bí mật. Do có chỉ điểm nên địch phát hiện được căn hầm thứ nhất và căn hầm thứ hai. Sau khi phát loa gọi hàng không kết quả, bọn lính tập trung hỏa lực các cỡ bắn xối xả vào nắp hai căn  hầm.

Trước tình thế đã bị lộ, các chiến sĩ của ta lập tức xông lên chiến đấu; nhưng đều anh dũng hi sinh. Riêng bà bị bắt sống. Thấy bà còn trẻ, địch hy vọng có thể đe dọa, mua chuộc hoặc trấn áp tinh thần để khai ra vị trí hầm của lãnh đạo, chỉ huy. Chúng bắn 2 đồng đội của bà ngay bên miệng hầm để uy hiếp tinh thần. Uy hiếp tinh thần không được, chúng chuyển sang dụ dỗ, rồi đến tra tấn dã man.

Tuy bị địch đánh đập rất tàn bạo, nhưng với tinh thần kiên trung, bất khuất và ý thức bảo vệ đồng chí, đồng đội; bà vẫn một lòng giữ vững khí tiết, chỉ nói có 1 câu duy nhất: “Tôi có chỉ huy, nhưng chỉ huy của tôi ở đâu tôi không biết”. Đến 11 giờ cùng ngày, biết không thể lay chuyển được ý chí của người nữ chiến sĩ gang thép, bọn địch đã hèn hạ bắn chết bà. Người nữ chiến sĩ an ninh đã anh dũng hy sinh, nêu cao tinh thần chiến đấu ngoan cường, không sợ hy sinh, gian khổ, tuyệt đối trung thành với cách mạng. Tuy còn trẻ, nhưng bà đã tỏ rõ là một cán bộ cách mạng kiên trung, bất khuất, dũng cảm và mưu trí, chấp nhận hy sinh tính mạng để bảo vệ đồng chí, đồng đội được an toàn. Tấm gương ngời sáng của bà là nguồn sức mạnh để lực lượng An ninh thị xã Gò Công chiến đấu, góp phần vào chiến thắng của quê hương, đất nước.

Ngày 3-8-1995, bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng võ trang nhân dân. Tên bà được đặt tên trường tiểu học ở xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

7. NGUYỄN VĂN LỘC (1923 – 1971)

Nguyễn Văn Lộc, bí danhBảy Hiếu, sinh năm 1923 tại xã Nhị Quí, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ông nhập ngũ năm 1948. Sau Hiệp định Genève (7-1954), ông được phân công ở lại miền Nam tham gia xây dựng mạng lưới tình báo và được cấp trên phân công làm Cụm trưởng Cụm tình báo A24. Lưới tình báo của ông đã cài cắm nhiều cán bộ và cơ sở điệp báo nằm trong các cơ quan đầu não của địch nhằm thu thập tin tức, phục vụ cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ. Ngày 23-7-1965, ông bị địch bắt và bị tra tấn dã man, nhưng ông đã giữ vững khí tiết, dũng cảm mưu trí đấu tranh với địch, giấu được tung tích. Không khai thác được gì, ngày 23-1-1968, địch trả tự do cho ông, toàn bộ cụm tình báo do ông phụ trách đều được an toàn.

Tháng 4-1968, ông được bổ nhiệm làm Cụm trưởng Cụm tình báo A28 thuộc Phòng Tình báo Miền. Tại nội thành Sài Gòn, Cụm tình báo này hoạt động bí mật và rất hiệu quả, thu thập được nhiều thông tin quý báu, có giá trị chiến lược.

Ngày 5-8-1971, ông lại bị địch bắt tại chiến khu Bời Lời (huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh). Mặc dù bị địch đánh đập tàn nhẫn, nhưng ông kiên quyết không khai báo, bảo vệ bí mật của cụm tình báo. Không khuất phục được người cụm trưởng tình báo, địch đã thủ tiêu ông. Toàn bộ cán bộ, điệp viên và cơ sở điệp báo của Cụm A28  do ông làm cụm trưởng vẫn an toàn và tiếp tục hoạt động cho đến ngày toàn thắng 30-4-1975.

Ngày 23-5-2005, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 8. ĐẶNG THỊ MÀNH (1922 – 1952)

Đặng Thị Mành, bí danh Đặng Quốc Liên, sinh năm 1922 tại xã Bình Hiệp, huyện Mộc Hóa, tỉnh Tân An (nay là xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An), trong một gia đình trung nông yêu nước.

Sớm có tinh thần yêu nước, ghét áp bức, bất công; ngay từ thuở nhỏ, bà đã xin gia đình cho đi học võ, phi ngựa, bắn cung với ý thức là chống lại bọn giặc ngoại xâm và bọn cường hào ác bá tay sai, nhằm giành độc lập, tự do cho đất nước. Bà còn giỏi hò cấy và hát huê tình dân ca Nam Bộ.

Năm 1945, bà tham gia cách mạng, công tác tại Hội Phụ nữ cứu quốc huyện Châu Thành với nhiệm vụ vận động phụ nữ tham gia công cuộc kháng chiến – kiến quốc. Sau đó, bà gia nhập lực lượng Vệ quốc đoàn, trực tiếp cầm súng đánh giặc Pháp khi bọn chúng quay trở lại xâm lược quê hương. Trong một trận đánh ở Tân Hương (Châu Thành, Tiền Giang), bà bị giặc bắt; nhưng sau đó, lợi dụng lúc địch sơ hở, bà trốn thoát được.

Năm 1947, trước những hành động giết người tàn ác “trời không dung, đất không tha” của bọn lính ác ôn ở Phú Mỹ (nay thuộc huyện Tân Phước), bà tình nguyện xin vào lực lượng Công an xung phong tỉnh Mỹ Tho để trả thù cho nhân dân và đồng đội. Với những trận đánh “xuất quỷ nhập thần”, bà đã trừng trị nhiều tên khét tiếng hung bạo, có nợ máu với nhân dân, khiến cho địch vô cùng khiếp sợ, không dám tự tiện hoành hành, nhũng nhiễu, giết hại nhân dân. Năm 1948, bà trực tiếp tiêu diệt 1 tên hương quản mộ một tên sĩ quan Pháp có biệt danh “Tây búa” (vì mỗi khi bắt được cán bộ cách mạng, tên này đều đập đầu bằng bía). Sau đó, bà được phân công thực hiện công tác diệt ác phá kềm ở vùng Củ Chi – Phú Mỹ. Ở đây, bà đã diệt được một số lính Pháp và bọn tay sai ác ôn, có nợ máu với nhân dân.

Trước tình hình đó, địch treo giải thưởng rất cao cho những ai bắt được hoặc chỉ điểm nơi ở của bà. Mặc dù vậy, bà vẫn không hề nao núng, tiếp tục hoạt động sôi nổi và nhiều lần dũng cảm thoát hiểm trước họng súng của địch.

Cuối năm 1952, trong một lần đi công tác ở xóm Tre, xã Tân Hòa Đông (nay thuộc huyện Tân Phước), bà bị địch phục kích. Mặc dù bị thương rất nặng, nhưng bà vẫn dũng cảm chiến đấu, diệt được 1 tên địch. Sau đó, bà đã anh dũng hy sinh. Dã man hơn, địch còn dựng thi hài của bà vào gốc cây trâm, xả súng bắn thành hàng trăm mảnh. Bà hy sinh anh dũng vì nước, vì dân lúc tròn 30 tuổi. Ngày 3-8-1995, bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Tên bà được đặt tên trường tiểu học ở xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An; tên đường ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

9. LÊ QUANG NINH (1942 – 2018)

Ông sinh năm 1942, tại xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình truyền thống cách mạng.

Năm 1959, ông tham gia hoạt động cách mạng trong tổ chức sinh viên, học sinh Mỹ Tho. Năm 1963, ông được kết nạp Đảng. Cũng trong năm này, sau khi thi đậu tú tài toàn phần, ông được ông Mười Hòa – Trưởng ban Binh vận tỉnh Mỹ Tho yêu cầu phải đăng ký học khóa sĩ quan trù bị Thủ Đức để hoạt động nội tuyến.

Cuối năm 1964, tốt nghiệp khóa sĩ quan ở Thủ Đức, ông được Ban Binh vận tỉnh Mỹ Tho chỉ thị tiếp tục chui sâu vào hàng ngũ quân sự địch. Ông trở thành sĩ quan thuộc Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn. Thời điểm đó, Sư đoàn 25 vừa dời hậu cứ từ Quảng Ngãi về Hậu Nghĩa (nay là huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) để bảo vệ phía tây bắc Sài Gòn. Kể từ đó, mọi di biến động và ý đồ quân sự của Sư đoàn 25 đều được ông báo cáo cho Ban Binh vận tỉnh Mỹ Tho.

Nhận thấy những tin tức quân sự của ông có giá trị lớn, Tỉnh ủy Mỹ Tho chỉ đạo Ban Binh vận tỉnh chuyển giao ông về Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam. Từ đó, ông mang bí số 110 và hoạt động tình báo đơn tuyến, chỉ liên lạc duy nhất với bà  Nguyễn Thị Nhẫn – cán bộ giao liên mật của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam.

Vào thời điểm tháng 4-1975, ông mang hàm thiếu tá, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, Trung đoàn 50 (viết tắt là 1/50) thuộc Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn. Cũng trong tháng 4-1975, ông nhận được chỉ thị của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam: “Từ ngày 25 đến 28-4-1975, phải tổ chức tiểu đoàn làm binh biến, về với cách mạng”.

Ngày 25-4-1975, từ hai hướng Phước Chỉ (nay thuộc huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh) và Trung Hưng (nay thuộc xã Trung Lập Thượng, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh), Quân đoàn 3 của cách mạng đã tạo thành gọng kìm áp sát tuyến phòng thủ của Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn. Trước tình hình đó, địch vội đưa lực lượng ứng cứu cơ động, bao gồm Tiểu đoàn 1/50 và Thiết đoàn 10 kỵ binh với 40 xe tăng và xe thiết giáp lên án ngữ Lộc Giang nhằm chặn đà tiến của quân giải phóng.

Trước áp lực của Quân đoàn 3, sáng ngày 28-4-1975, nhận được lệnh rút quân về Đồng Dù (căn cứ của Sư đoàn 25), ông bắt đầu hành động bằng cách  đề nghị cho tiểu đoàn do ông chỉ huy đi trước mở đường, 2 tiếng sau các xe tăng và xe thiết giáp của Thiết đoàn 10 mới di chuyển theo. Đề nghị này được chấp nhận. Khi dừng quân ở đình Gia Lộc (ấp Gia Huỳnh, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng), ông nhận thấy đây là địa điểm thuận lợi để tổ chức ly khai phản chiến. Sau đó, ông mời các sĩ quan trong ban chỉ huy tiểu đoàn và 4 sĩ quan đại đội trưởng hội ý tại chỗ.

Bằng lời lẽ chân thành, ông thuyết phục các sĩ quan dưới quyền ly khai quân đội Sài Gòn, về với quân giải phóng. Mọi người bất ngờ nhưng chẳng ai có ý kiến gì. Ông tự giới thiệu mình là người của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam rồi đọc chính sách 7 điểm của Mặt trận.Tiếp theo, ông chỉ huy toàn tiểu đoàn với 500 quân, đầy đủ vũ khí, khí tài quân sự di chuyển về ấp An Thành (An Tịnh, huyện Trảng Bàng). Tại đây, ông và tiểu đoàn 1/50 được cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 98 (Quân đoàn 3 quân giải phóng) tiếp đón.

Sau đó, ông sử dụng máy truyền tin vô tuyến, kêu gọi các đơn vị của quân đội Sài Gòn buông súng về với cách mạng để “tự cứu mình”  và đỡ đổ xương máu. Hầu hết các đơn vị khác của tuyến phòng thủ tây bắc của quân đội Sài Gòn đang rệu rã tinh thần càng thêm hoảng sợ và dần dần tan rã.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ khởi nghĩa, phản chiến, ông cùng Tiểu đoàn 1/50 di chuyển về rạch Bùng Binh để được bàn giao cho Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam. Tại đây, vào ngày 7-5-1975, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Tây Ninh tổ chức mít tinh trao thưởng “Huân chương Giải phóng hạng Ba cho toàn bộ 500 nghĩa binh của Tiểu đoàn 1/50”.

Sau ngày thống nhất đất nước (30-4-1975), ông được phân công công tác tại Cơ quan phản gián của Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, ông tiếp tục tham gia phá nhiều vụ án gián điệp, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng. Năm 1995, ông được nghỉ hưu.

Ông được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất và hạng Ba.  Tháng 4-2011, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 20-6-2018, ông mất ngày tại Thành phố Hồ Chí Minh. Mộ ông tọa lạc tạo xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *